Tư vấn pháp luật 365 Căn cứ công an kiểm tra khách thuê phòng nhà nghỉ
Quảng cáo trái
Quảng cáo phải

Căn cứ công an kiểm tra khách thuê phòng nhà nghỉ

Mến chào công ty luật Phamlaw. Tôi có trường hợp này mong các luật giải đáp giúp tôi. Tôi muốn hỏi, công an được phép kiểm tra hàng chính công dân khi thuê phòng tại nhà nghỉ, khách sạn ở căn cứ nào hay có thể kiểm tra một cách tùy tiện? Nếu trong trường hợp khách hàng không hợp tác với công an trong việc kiểm tra hành chính thì khách hàng có bị truy cứu trách nhiệm gì hay không? Tôi rất mong được sự giải đáp thỏa đáng từ các luật sư.

Trân trọng cám ơn nhiều!

Trả lời: (Câu trả lời chỉ mang tính chất tham khảo)

Chào bạn, với câu hỏi của bạn Phamlaw xin được tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ công an kiểm tra khách thuê phòng nhà nghỉ

Căn cứ công an kiểm tra khách thuê phòng nhà nghỉ

Căn cứ Điều 22 Hiến pháp 2013 và Điều 46 Bộ luật Dân sự 2005 đều quy định về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của cá nhân, việc vào chỗ ở của một người phải được người đó đồng ý. Trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của một người. Việc khám xét phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Thông tư 33/2010/TT-BCA ngày 5/10/2010 của Chính phủ quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, cơ quan công an có thẩm quyền trong quá trình quản lý phải thực hiện “kiểm tra người và phương tiện tại địa điểm kinh doanh liên quan đến hoạt động của cơ sở khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật”. Vì lẽ đó, khi xét thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cơ quan công an có thẩm quyền có quyền kiểm tra hành chính người và phương tiện tại địa điểm kinh doanh liên quan đến hoạt động của cơ sở.

Như vậy, cơ quan công an có thẩm quyền chỉ được quyền kiểm tra khách thuê phòng khi xét thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong hoạt động cho thuê lưu trú của nhà nghỉ, khách sạn.

Đối với trường hợp khách thuê phòng bất hợp tác hoặc có hành vi chống đối cơ quan công an có thẩm quyền khám xét thì tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra, người thực hiện hành vi chống đối có thể bị xử phạt hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội…, người có hành vi “dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ” có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng. Căn cứ điều 257 Bộ luật Hình sự, “người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ …” có thể bị phạt tù đến 7 năm.

————————

Phòng tư vấn pháp luật chuyên sâu công ty luật Phamlaw


Bài viết liên quan cùng chủ đề: